YBAHCM

Trang chủ - YBAHCM

Định hướng – chính sách phát triển KCN, KCX, KKT

Đây là cơ sở quan trọng để Chính phủ triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX và KKT trong gần 25 năm qua và trong giai đoạn tới.

Một số vấn đề về chính sách phát triển KCN, KCX, KKT theo Luật Đầu tư 2014 và định hướng chính sách đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035

Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN, KCX, KKT đồng thời khẳng định vai trò của KCN, KCX, KKT là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là cơ sở quan trọng để Chính phủ triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX và KKT trong gần 25 năm qua và trong giai đoạn tới.

Thực trạng chính sách phát triển KCN, KCX, KKT

Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách và mô hình quản lý đối với KCN, KCX, KKT hiện đã trải qua 4 giai đoạn phát triển1. Mỗi giai đoạn gắn liền với việc thực hiện những quy định của luật pháp, chính sách khác nhau về KCN, KCX, KKT trên các lĩnh vực như: quy hoạch, kế hoạch, đầu tư, chính sách ưu đãi, chính sách hỗ trợ đầu tư, quản lý nhà nước. Chính sách phát triển KCN, KCX, KKT hiện nay đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn 3 sang giai đoạn 4 theo quy định mới của Luật Đầu tư 2014 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015).  Cụ thể như sau:

Chính sách pháp luật hiện hành về KCN, KCX, KKT

a) Về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư hạ tầng đối với KCN

– Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: theo quy định tại Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), dự án đầu tư vào KCN được áp dụng thuế suất phổ thông là 22%, được miễn 02 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo.

– Ưu đãi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu thì hàng hóa từ KCX xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào KCX và chỉ sử dụng trong KCX là đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

– Ưu đãi đất đai: theo quy định tại Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN được miễn tiền thuê đất 15 năm. Riêng đối với phần diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong KCN thì được miễn tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê.

– Ưu đãi tín dụng: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, KCX thuộc đối tượng được vay vốn tín dụng đầu tư theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

– Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN: theo Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hỗ trợ thực hiện các hạng mục: đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư cho người bị thu hồi đất trong KCN; hệ thống xử lý nước thải và chất thải của KCN và hạ tầng kỹ thuật trong KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

b) Về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư hạ tầng đối với KKT

– Ưu đãi thuế TNDN: theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, dự án đầu tư vào KKT được hưởng thuế suất thuế TNDN là 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 04 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo.

– Ưu đãi thuế nhập khẩu: theo Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg ngày 26/112013 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với KKT cửa khẩu, dự án đầu tư trong KKT cửa khẩu được miễn thuế nhập khẩu tạo tài sản cố định; miễn thuế nhập khẩu 5 năm đầu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất nhập khẩu để phục vụ sản xuất.

– Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân (TNCN): theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại các KKT được giảm 50% thuế TNCN đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế.

– Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng KKT: ngân sách trung ương (NSTW) hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài các khu chức năng và các công trình dịch vụ quan trọng trong KKT ven biển theo Quyết định số 126/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 về cơ chế hỗ trợ vốn NSTW đối với đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KKT ven biển và KKT cửa khẩu theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011 – 2015. Vốn NSNN hỗ trợ thực hiện các hạng mục: bồi thường, giải phóng mặt bằng trong các khu chức năng và tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi đất; đầu tư công trình xử lý nước thải và chất thải tập trung của các khu chức năng; đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội KKT.

Ngoài ra, KKT được áp dụng các phương thức huy động vốn khác để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội quan trọng trong KKT như: phát hành trái phiếu công trình,  sử dụng vốn ODA, vốn tín dụng ưu đãi, vốn đầu tư theo hình thức PPP, huy động vốn từ quỹ đất, vốn ứng trước của nhà đầu tư.

c) Về xây dựng nhà ở và thực hiện chính sách cải thiện đời sống cho người lao động trong các KCN, KKT

Để tạo điều kiện giải quyết vấn đề quỹ đất và quy hoạch nhà ở gắn với quy hoạch KCN, Nghị định 164/2013/NĐ-CP đã cho phép dành một phần diện tích KCN đã giải phóng mặt bằng để xây dựng nhà ở cho người lao động.

Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở công nhân, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, trong đó yêu cầu UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đảm bảo quỹ đất xây dựng nhà ở cho công nhân trong KCN và quy định nhiều cơ chế ưu đãi cho dự án đầu tư nhà ở xã hội như: ưu đãi về miễn tiền thuê đất, thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN và ưu đãi tín dụng.

Các chính sách cải thiện đời sống người lao động như tiền lương, đào tạo, chăm sóc y tế, giáo dục cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động đã được quan tâm theo hướng tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động.

d) Về cơ chế quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về KCN, KCX, KKT được thực hiện theo cơ chế phân cấp, ủy quyền. Cụ thể như sau:

– Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về KCN, KCX, KKT trong phạm vi cả nước trên cơ sở phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và Ban Quản lý; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển và ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về KCN, KCX, KKT.

– Thủ tướng Chính phủ có quyền hạn và trách nhiệm: (i) chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện luật pháp, chính sách về KCN, KCX, KKT; (ii) phê duyệt và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về KCN, KCX, KKT; (iii) quyết định thành lập, mở rộng KKT; phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng KKT; (iv) cho phép mở rộng và điều chỉnh giảm quy mô diện tích, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt trong KCN, các khu chức năng trong KKT; (v) chỉ đạo xử lý và giải quyết những vấn đề vướng mắc vượt thẩm quyền.

– Các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và hành chính lãnh thổ đối với KCN, KCX, KKT; hướng dẫn hoặc ủy quyền cho Ban Quản lý thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

– Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN, KKT; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN, KKT. Ban Quản lý KCN, KKT có thẩm quyền trực tiếp trong quản lý về đầu tư và quản lý KCN, KKT trên một số lĩnh vực theo hướng dẫn, ủy quyền của các Bộ và cơ quan có thẩm quyền: thương mại, xây dựng,  lao động, môi trường. Ngoài ra, Ban Quản lý KKT được giao thêm một số thẩm quyền như quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách theo ủy quyền của UBND cấp tỉnh; giao đất theo quy định của pháp luật về đất đai…

Quy định mới về KCN, KCX, KKT theo Luật Đầu tư năm 2014

Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 có một số quy định mới về KCN, KCX, KKT bao gồm:

– Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về đầu tư;

– Bổ sung quy định hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội KCN, KKT; bổ sung trách nhiệm của chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng về phát triển nhà ở và công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong KCN, KKT;

– Bổ sung trách nhiệm quản lý nhà nước về KCN, KKT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong KCN, KKT.

– Cụ thể hóa quy định về hình thức, phương thức hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN, KKT và cơ chế phát triển nhà ở cho người lao động làm việc tại các khu này.

– Bổ sung hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư tại KCN, KCX, KCNC, KKT.

 

Kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc

Về kết quả xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT

Về tình hình phát triển KCN, KKT: Tính đến cuối tháng 5/2015, cả nước đã có 295 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 84 nghìn ha. Trong đó, 212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 60 nghìn ha và 83 KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Về KKT, cả nước có 15 KKT ven biển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước là 700 nghìn ha và 26 KKT cửa khẩu đã được thành lập.

Về tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KKT: Lũy kế đến cuối tháng 5/2015, các KCN trên cả nước đã thu hút được 5.800 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đã đăng ký là 87 tỷ USD, vốn đầu tư đã thực hiện đạt 49 tỷ USD (bằng 56% vốn đầu tư đã đăng ký). Các KKT ven biển đã thu hút được 260 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 37,5 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 13,5 tỷ USD (bằng 36% tổng vốn đầu tư đã đăng ký). Các KKT cửa khẩu thu hút được 70 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 700 triệu USD.

Về tình hình thu hút đầu tư trong nước vào KCN, KKT: lũy kế đến cuối tháng 5/2015, các KCN cả nước đã thu hút được 5.600 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 552 nghìn tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 255 nghìn tỷ đồng (bằng 50% tổng vốn đăng ký). Các KKT ven biển đã thu hút 785 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 550 nghìn tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 165 nghìn tỷ đồng (bằng 30% tổng vốn đăng ký). Các KKT cửa khẩu thu hút được 500 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 40 nghìn tỷ đồng.

Về tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN, KKT: Năm 2014 các KCN, KKT đã đóng góp khoảng 73,4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu (chiếm tỷ trọng 49% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), 67,6 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu (chiếm 46% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước), tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp khoảng 118 tỷ USD (chiếm tỷ trọng khoảng 43% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước), nộp ngân sách khoảng 87 nghìn tỷ đồng và thu hút khoảng 2,4 triệu lao động trực tiếp.

Việc xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện như sau:

Một là, các KCN, KCX đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, trong đó có các tập đoàn lớn, hàng đầu trên thế giới; đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, nông thôn; nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất; kiểm soát và xử lý chất thải công nghiệp; tạo việc làm, đào tạo và nâng cao đời sống, thu nhập cho lực lượng lao động, đặc biệt là lao động khu vực nông thôn; góp phần đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh qua đó gia tăng giá trị sản xuất, xuất khẩu của ngành công nghiệp; tạo ra những sản phẩm công nghệ – kỹ thuật cao, gia tăng hoạt động nghiên cứu – phát triển, ứng dụng công nghệ cao và phát triển nhân lực công nghệ cao.

Hai là, các KKT ven biển đã sớm hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng cơ bản, thu hút được một số dự án đầu tư quan trọng, quy mô lớn trong lĩnh vực công nghiệp then chốt như: cơ khí, hóa dầu, nhiệt điện, thép, đóng tầu,… bước đầu phát huy vai trò động lực trong phát triển kinh tế địa phương và vùng, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng ra biển Đông và gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển.

Ba là, các KKT cửa khẩu cũng đã được hình thành và phát triển nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại dịch vụ qua biên giới; phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân các địa phương khu vực biên giới và góp phần gìn giữ an ninh quốc phòng khu vực biên giới đất liền.

Những vấn đề hạn chế, vướng mắc

a) Việc hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về KCN, KKT chưa được triển khai đầy đủ

Nghị định 164/2013/NĐ-CP đã được ban hành cuối năm 2013, quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc hướng dẫn thực hiện phân cấp ủy quyền cho Ban Quản lý các KCN, KKT và hướng dẫn một số nội dung về quy hoạch nhà ở cho công nhân trong KCN. Tuy nhiên, đến nay, mới có Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương đã có văn bản hướng dẫn, các Bộ, ngành khác chưa triển khai hướng dẫn theo quy định của Nghị định số 164/2013/NĐ-CP.

b) Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KCN, KKT còn bất cập, chưa thuận lợi cho Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước

– Các quy định tại pháp luật chuyên ngành không thống nhất với quy định về phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KCN, KKT như quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, cụ thể trong lĩnh vực quản lý xây dựng, môi trường tại KCN, KKT đưa ra thêm điều kiện về năng lực và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý KCN, KKT để có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn.

– Ban Quản lý KCN, KKT không được giao thực hiện chức năng thanh tra nên hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của Ban Quản lý không cao, xảy ra tình trạng Ban Quản lý phát hiện vi phạm của các doanh nghiệp trong KCN, KKT nhưng không thể xử phạt được.

c) Công tác bảo vệ môi trường KCN, KKT chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra

– ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp phát triển hạ tầng, doanh nghiệp thứ cấp trong các KCN chưa cao nên vẫn có một số KCN, doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi trường.

– Ước tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường mới đạt 84%. Như vậy, so với mục tiêu đề ra vào cuối năm 2015 là 100% thì còn có khoảng cách lớn.

– Nhu cầu vốn đầu tư để xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tập trung lớn. Trong khi, vốn NSTW hỗ trợ xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung KCN, KKT theo Quyết định 43/2009/QĐ-TTg và Quyết định 126/2009/QĐ-TTg hạn chế. Huy động các nguồn vốn khác cho đầu tư xử lý nước thải còn khó khăn.

d) Vấn đề nhà ở, phúc lợi xã hội và đời sống công nhân trong KCN, KKT chưa được cải thiện rõ rệt

– Nghị định số 188/2013/NĐ-CP đã quy định nhiều chính sách ưu đãi cho đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân nhưng thời gian có hiệu lực (có hiệu lực từ ngày 10/1/2014) chưa lâu nên chưa phát huy được hiệu quả. Ngoài ra, tại các địa phương tập trung nhiều KCN, việc giải phóng mặt bằng, bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở cho công nhân khó khăn, chậm triển khai. Do đó, vấn đề nhà ở cho công nhân chưa được cải thiện rõ rệt.

– Việc đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi xã hội khác cho người lao động (cơ sở khám chữa bệnh, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, khu vui chơi giải trí…) chưa được quan tâm đúng mức và công tác xã hội hóa lĩnh vực này cũng chưa được đẩy mạnh.

– Tình trạng vi phạm pháp luật về lao động, không đảm bảo quyền lợi của người lao động trong KCN, KKT vẫn diễn ra, cụ thể như: chưa xây dựng và đăng ký thang lương, bảng lương, thỏa ước lao động tập thể theo quy định hoặc có xây dựng thì mang tính hình thức; thời gian làm việc nhiều hơn so với quy định; tham gia đóng BHXH cho người lao động theo mức lương quy định tối thiếu, không đóng theo lương thực tế của người lao động; không cung cấp đủ bảo hiểm lao động …Vì vậy, một số cuộc đình công, lãn công của công nhân tại một số KCN vẫn xảy ra.

đ) Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực gắn với ngành nghề thu hút đầu tư trong các KCN, KKT còn thiếu

Quy hoạch nguồn nhân lực gắn với ngành nghề thu hút đầu tư trong các KCN, KKT chưa được quan tâm thích đáng, dẫn tới việc thiếu hụt nguồn nhân lực cho một số dự án lớn đang triển khai tại một số KCN, KKT. Ngoài ra, việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (nhà ở cho chuyên gia, công nhân, trường học, bệnh viện…) cũng chưa được quan tâm, do vậy chưa tạo sự hấp dẫn thu hút người lao động.

e) Việc huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KKT còn khó khăn

– Nhu cầu đầu tư hạ tầng kỹ thuật của các KKT là lớn và còn phụ thuộc nhiều vào nguồn NSTW hỗ trợ có mục tiêu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Các KKT chưa huy động được các nguồn vốn khác như trái phiếu chính phủ, ODA. Các hình thức hợp tác công tư (PPP) chưa được phát huy.

– Ngoài KKT Vũng áng, KKT Dung Quất, KKT Nghi Sơn, KKT mở Chu Lai,  KKT Đình Vũ – Cát Hải, KKT Phú Quốc, KKT Nam Phú Yên, các KKT còn lại chưa thu hút được những dự án quy mô lớn, có tính động lực. Vì vậy, các KKT này chưa phát huy được vai trò là động lực phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Đồng thời, qua đó, việc huy động tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của KKT gặp nhiều hạn chế.

– Chất lượng dự án đầu tư vào KKT, KCN đã được cải thiện và thu hút được một số dự án quy mô lớn có hàm lượng công nghệ cao nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về chuyển giao công nghệ, các dự án công nghệ nguồn, các dự án công nghiệp phụ trợ.

g) Chính sách hiện hành còn một số điểm vướng mắc chưa thuận lợi cho thu  hút đầu tư, phát triển các KCN, KKT

– Về ưu đãi thuế TNDN: theo quy định tại Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, dự án đầu tư vào KCN không được áp dụng thuế suất ưu đãi, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN không được áp dụng thuế suất ưu đãi và thời gian miễn, giảm như quy định trước đây.

– Về cho thuê lại đất và đơn giá cho thuê đất đối với doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN: Luật Đất đai năm 2013 không cho phép doanh nghiệp hạ tầng tận dụng được nguồn vốn dài hạn thông qua việc thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm và cho thuê lại đất thu tiền thuê đất một lần đối với nhà đầu tư thứ cấp như trước đây. Việc chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần đối với doanh nghiệp hạ tầng còn gặp  một số vướng mắc, khó khăn và chưa được hướng dẫn cụ thể.

Theo quy định tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, đơn giá Nhà nước cho doanh nghiệp hạ tầng thuê đất trả tiền thuê đất một lần được định giá theo giá thị trường, qua đó, đẩy giá cho thuê lại đất lên rất cao, không hấp dẫn các nhà đầu tư thứ cấp. Việc thanh toán tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê tính giá đất phi nông nghiệp bằng với giá Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Như vậy, số tiền nộp tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với các KCN rất lớn, nâng chi phí đầu tư lên cao và giá cho thuê lại đất tăng cao.

– Về ưu đãi miễn tiền thuê đất đối với dự án đầu tư hạ tầng KCN, KKT: Theo quy định tại Điều 19, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP, danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư; danh mục địa bàn được hưởng ưu đãi tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với địa bàn có địa giới hành chính cụ thể. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về đất đai, chỉ có đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã mới có địa giới hành chính. Do đó, KCN, KKT không còn là địa bàn ưu đãi tiền thuê đất. Việc ưu đãi tiền thuê đất được căn cứ vào địa bàn cấp huyện mà KCN, KKT được thành lập.

 

Định hướng chính sách phát triển KCN, KCX, KKT đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về ưu đãi đầu tư, quy hoạch, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KKT

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách hiện hành để đảm bảo các ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi về thuế TNDN, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được duy trì ở mức ổn định và hấp dẫn cho phát triển các KCN, KKT.

– Về quản lý nhà nước đối với KCN, KKT, tiếp tục tăng cường phân cấp, giao nhiệm vụ trực tiếp từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KKT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch để đảm bảo quy hoạch KCN, KKT có tính ổn định, lâu dài và thực tiễn cao. Xây dựng, triển khai quy hoạch KCN, KKT gắn với thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở và các quy hoạch ngành liên quan.

– Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng xây dựng một cách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với các tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong hàng rào với ngoài hàng rào KCN. Đa dạng các nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình tiện nghi, tiện ích phục vụ đời sống người lao động KCN.

– Huy động tổng hợp các nguồn vốn, trong đó phát huy tối đa các hình thức PPP để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KKT. Nghiên cứu xem xét nâng cao trách nhiệm của các địa phương trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KKT, giảm bớt phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ từ NSTW.

Cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN, KKT

– Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là mũi nhọn phát triển và có lợi thế của Việt Nam và phù hợp với định hướng tái cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của đất nước.

– Tăng cường tính liên kết ngành trong phát triển KCN, KKT, hình thành các cụm liên kết ngành (cluster) trên cơ sở các dự án quy mô lớn đã thu hút được tại các KCN, KKT.

Tăng cường bảo vệ môi trường và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

– Phát triển KCN, KKT phải đi đôi với bảo vệ môi trường, đảm bảo tuân thủ các điều kiện về môi trường môi sinh trong xử lý nước thải, chất thải trong KCN, KKT, hướng tới phát triển KCN, KKT một cách bền vững.

– Tổ chức tuyên truyền để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp trong KCN, KKT

– Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động, tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp phát triển kinh doanh gắn với nâng cao trách nhiệm đối với quyền lợi của người lao động và của cộng đồng; cải thiện điều kiện lao động, hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần, chỗ ở cho người lao động trong KCN.

– Phát triển KCN phải đi đôi với quy hoạch, xây dựng nhà ở, các công trình tiện nghi, tiện ích công cộng để đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

Tập trung phát triển một số mô hình mới của KCN, KKT

– Nghiên cứu, xây dựng và đa dạng hóa mô hình phát triển KCN như KCN sinh thái, KCN liên kết ngành, KCN hỗ trợ, KCN chuyên sâu theo ngành, lĩnh vực tại một số địa phương có điều kiện thuận lợi để tăng cường tính liên kết ngành, lĩnh vực, tính chuyên môn hóa, tính tập trung để phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng như: điện tử, cơ khí, dệt-may, da-giày, chế biến thực phẩm… Đồng thời, tăng cường xúc tiến đầu tư để lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược cho các mô hình này.

– Nghiên cứu, pháp luật hóa mô hình KCN, đô thị, dịch vụ để phát triển đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, tạo môi trường sống và làm việc ổn định lâu dài cho người lao động và chuyên gia.

– Nghiên cứu, xây dựng mô hình Đặc khu kinh tế có quy mô đủ lớn với cơ chế, chính sách vượt trội và có tính cạnh tranh quốc tế, trở thành đầu tàu phát triển kinh tế – xã hội của cả nước tại một số địa phương có đủ điều kiện phát triển mô hình này.

ThS. Trần Duy Đông – Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

HỘI VIÊN HBA